 |
|
 |
|
|
Vụ kiện giữa các bên trong Công ty LD khách sạn Saigon Park Hyatt Sài Gòn
(11:03 - 04/06/2008)
|
|
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty United Concord Internationl LTD (gọi tắt là UCI) kiện Công ty Radiant Investments LTD (gọi tắt là RIL) yêu cầu huỷ bỏ các Nghi quyết do đã thông qua trái pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thấm Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhận định: bản án sơ thẩm số 531/20ội đồng xét xử phúc thấm Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhận định: bản án sơ thẩm số 531/2007/KDTM-ST ngày 04/4/2007 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã cho rằng về hình thức, về nội dung; về điều kiện (nguyên tắc thông qua nghị quyết) là hợp lệ. Kết luận này của bản án sơ thẩm là không có căn cứ, không tuân thủ Hợp đồng và điều lệ của GISH cũng như luật doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, là sai trái, cần cải sửa lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không công nhận giá trị pháp lý của ba nghị quyết mà các thành viên hội đồng quản trị đại diện của RIL và Công ty xây dựng Sài Gòn đã ký vào các ngày 10, 20 và 22 tháng 8 năm 2006 như là các nghị quyết hợp pháp của Hội đồng quản trị GISH (bao gồm: Nghị quyết về việc đăng ký lại; Nghị quyết về Chủ tịch Hội đồng quản trị và nghị quyết về tổng giám đốc). Ông Nguyễn Văn Hảo là chủ tịch Hội đồng quản trị và là Tổng giám đốc của Công ty Grand Imperial Saigon TNHH. Ông Nguyễn Văn Hảo không phải bàn giao công việc có liên quan cho ông Jaya J.B Tan và cho ông Paul Wong
|
|
Chi tiết...
|
|
|
Công ty Veil Infrastructure Limited và Công ty cổ phần xây dựng giao thông Đức Hạnh tranh chấp hợp đồng vay chưyển đổi nợ thành vốn góp
(08:42 - 23/04/2008)
|
|
Ban đầu các bên chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài , sau đó đã được thay thế bằng hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của các bên có cơ sở xác định Công ty Veil Infrastructure Limited và Công ty cổ phần xây dựng giao thông Đức Hạnh có ký hợp đồng vay chuyển đổi. Tiếp đến các cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần xây dựng giao thông Đức Hạnh có ký Thỏa thuận gia hạn và chuyển đổi nợ thành vốn và đã được đại diện có thẩm quyền của hai bên ký kết nên có giá trị pháp lý ràng buộc các bên thực hiện.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và các cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần xây dựng giao thông Đức Hạnh phải trả khoản vay: 1.549.750USD, cùng với lãi vay Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số nợ gốc và lãi phát sinh...
Trong việc thực hiện Thỏa thuận gia hạn và chuyển đổi nợ thành vốn, do phía bị đơn không làm thủ tục chuyển đổi khoản vay thành cổ phần đúng hạn quy định nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tiếp tục thực hiện Thỏa thuận gia hạn và chuyển đổi nợ thành vốn của bị đơn.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
Công nhận bản án dân sự của Tòa án Hàn Quốc cho thi hành tại Việt Nam
(15:35 - 23/05/2008)
|
|
Năm 1992, công ty TNHH Choongnam Sprinning (Hàn Quốc) hợp tác với công ty dệt Việt Thắng (Việt Nam) thành lập công ty liên doanh Choongnam Việt Thắng. Tháng 3/1998 Công ty Choongnam Sprinning chuyển nhượng 35% vốn trong liên doanh này cho công ty Yonho, sau đó Yonho chuyển nhượng cho công ty TNHH E & T (công ty Yonho và E & T đều của Hàn Quốc). Năm 2002, công ty TNHH Choongnam Sprinning làm thủ tục phá sản tại Hàn Quốc.
Tòa án cấp phúc thẩm của Hàn Quốc đã phán quyết việc chuyển nhượng vốn giữa Choongnam Sprinning với Yonho, giữa Yonho với E & T là nhằm tẩu tán tài sản nên bị vô hiệu và buộc công ty E & T phải trả lại phần lãi cùng phần vốn góp cho Choongnam Sprinning.
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Choongnam Sprinning (Hàn Quốc) công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án của Tòa án cấp phúc thẩm Dae Cheon (Hàn Quốc) phán quyết vụ việc số 2004 Na 10655 ngày 30/9/2005, đã có hiệu lực pháp luật
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
Công ty XNK Intimex và Công ty TNHH Thuỳ Anh tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
(09:06 - 12/08/2008)
|
|
Bị đơn -Công ty TNHH Thuỳ Anh có văn bản xác nhận công ty còn nợ công ty XNK Intimex hợp đồng mua bán giữa hai bên .Tuy nhiên số nợ gốc công ty chưa xác định cụ thể .
Công ty Thuỳ Anh đề nghị toà án tạo điều kiện để hai bên gặp gỡ, hoà giải. Công ty sẽ có phương án trả nợ cụ thể cho nguyên đơn.
Tại phiên toà, phía bị đơn vắng mặt. Tài liệu hồ sơ thể hiện bị đơn đã nhận thông báo hoà giải và thông báo phiên toà hợp lệ 2 lần cho mỗi thủ tục. Nay toà án xét xử vắng mặt bị đơn theo điều 200 và 202 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện bị đơn về nợ gốc các hợp đồng và đồng ý cho bị đơn chậm thanh toán đến 31/12/2007 với lịch trả 340 triệu đồng / tháng. Về lãi nguyên đơn đề nghị toà án xác định trên cơ sở quy định của pháp luật để hai bên bàn sau.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
Ngân hàng Công thương Việt Nam khởi kiện Tổng công ty Cổ phần thương mại và xây dựng yêu cầu thanh toán nợ theo các hợp đồng tín dụng
(09:38 - 17/07/2008)
|
|
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, lời bào chữa của luật sư và tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để buộc phía Tổng công ty Cổ phần thương mại và xây dựng phải thanh toán toàn bộ nợ và lãi quá hạn cho ngân hàng Công thương Việt Nam theo các hợp đồng tín dụng cụ thể là 5.400.000.000đ tiền gốc và lãi quá hạn là 4.587.594.742đ. Tổng cộng gốc và lãi Việt Nam đồng là 9.987.594.742đ. Tiền ngoại tệ gốc 28.746USD lãi quá hạn là 21.190,52USD. Tổng cộng gốc và lãi ngoại tệ là 49.936,52USD. Quy đổi tỷ giá ngày 05/6/2006 công bố trên báo Nhân dân, 1USD ≈ 15.931VNĐ như vậy số tiền ngoại tệ trên quy đổi là 795.538.700đ.
Tổng nợ 2 loại tiền mà Tổng công ty Cổ phần thương mại xây dựng phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng Ngoại thương là 10.783.133.442đ.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Công ty vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thông yêu cầu Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông bồi thường lô hàng 72 chiếc xe môtô STAR đã phát cháy trên đường vận chuyển tại Bình Định
(09:57 - 01/08/2008)
|
|
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng chuyên biệt, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được đưa ra các sản phẩm, các điều kiện bảo hiểm trên cơ sở Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan. Cụ thể đối với bị đơn trong vụ kiện này, bị đơn đã đưa ra mẫu đơn yêu cầu bảo hiểm để nguyên đơn điền vào nội dung yêu cầu. Sau đó, phía bị đơn xác nhận chấp nhận yêu cầu đó và giao lại cho nguyên đơn – bên được bảo hiểm.
Theo quy trình nêu trên thì thời điểm bị đơn ký đóng dấu chấp nhận vào đơn có nội dung yêu cầu của nguyên đơn chính là thời điểm giao kết hợp đồng. Do đó, thấy cần dựa trên cơ sở điều kiện thời gian bảo hiểm tại đơn yêu cầu để xác định thời điểm giao kết hợp đồng là 11h00’ ngày 20.12.2004.
Phía bị đơn cho rằng: Khoảng 11h10’, bị đơn mới nhận được điện thoại của nguyên đơn xin mua bảo hiểm. Thời gian này lô xe 72 chiếc STAR đã phát cháy trong Bình Định. Như vậy phía nguyên đơn có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm, ngoài ra, xe mô tô là hàng hoá nguy hiểm vì trong xe có chứa xăng...
|
|
Chi tiết...
|
|
|
Khách hàng kiện Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang nhưng bị thua kiện
(09:52 - 06/12/2007)
|
Tòa án sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang về việc ông Hồ Văn Đằng đã vi phạm nghĩa vụ khai báo trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm là có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm xử buộc Công ty TNHH bảo hiểm Prudential phải thanh toán cho bà Hồ Thị Thanh Ngoan toàn bộ số tiền bảo hiểm 30.000.000đ là không phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh bảo hiểm.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ chế biến trứng vịt bắc thảo giữa ông Đòan Minh Phúc và Doanh nghiệp tư nhân Ba Huân
(09:21 - 24/04/2008)
|
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị Kim Anh đại diện ký hợp đồng) và lời khai nhận của các bên đương sự tại phiên tòa thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao công nghệ chế biến trứng vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận là 40.000.000 đồng, ông Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng....
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả thử nghiệm mà không có lý do chính đáng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt là không có cơ sở để được chấp nhận.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ chế biến trứng vịt bắc thảo giữa ông Đòan Minh Phúc và Doanh nghiệp tư nhân Ba Huân
(09:59 - 27/03/2008)
|
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị Kim Anh đại diện ký hợp đồng) và lời khai nhận của các bên đương sự tại phiên tòa thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao công nghệ chế biến trứng vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận là 40.000.000 đồng, ông Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng....
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả thử nghiệm mà không có lý do chính đáng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt là không có cơ sở để được chấp nhận.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Hủy án, điều tra lại vụ án Nông trường Sông Hậu
(18:07 - 07/04/2010)
|
Viện KSND tối cao ngày 6.4.2010 đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án Nông trường Sông Hậu (NTSH) vì việc xét xử vụ án ở các cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã có nhiều thiếu sót về thủ tục tố tụng và nội dung.
Tuy nhiên, Viện KSND tối cao cũng khẳng định việc điều tra, truy tố, xét xử bà Trần Ngọc Sương tội “lập quỹ trái phép” là đúng.
Chúng tôi xin đăng lại nguyên văn bài báo trên Thanh niên online ngày 07/4/2010 của tác giả Ngọc Đức và Thái Sơn
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Tranh chấp giữa các thành viên Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân - Hà Nội
(09:06 - 12/08/2008)
|
|
Tranh chấp giữa các thành viên Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân - Hà Nội. Theo các nguyên đơn trình bày, việc tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 09.11.2006 không tuân thủ đúng Điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp năm 2005, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các nguyên đơn. Chính vì vậy, nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết các vấn đề sau:
1. Huỷ bỏ nghị quyết số 186/HĐQT ngày 09.11.2006 của Đại hội đồng cổ đông bất thường Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân.
2. Công nhận kết quả của việc bán 23.000 cổ phiếu (trị giá 2.300.000.000đồng) của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
Xã viên Hợp tác xã thương mại Đại Đồng (Hà Nội) yêu cầu Toà án tuyên huỷ cuộc họp đại hội xã viên bất thường
(09:57 - 01/08/2008)
|
|
Theo nguyên đơn là hai xã viên hợp tác xã thương mại trình bày thì chủ nhiệm hợp tác xã đã ra quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo với lý do các xã viên này không nộp thuế cũng như làm nghĩa vụ tài chính đối với Hợp tác xã.
Sau đó chủ nhiệm Hợp tác xã chủ trì Đại hội xã viên bất thường khai trừ các ông bà ra khỏi Hợp tác xã cũng với lý do trên. Tại cuộc họp chỉ có 4/19 xã viên biểu quyết tán thành việc khai trừ xã viên, nhưng chủ nhiệm Hợp tác xã vẫn ra quyết định khai trừ. Thủ tục tiến hành đại hội Hợp tác xã làm không đúng theo pháp luật và điều lệ Hợp tác xã.
Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết huỷ cuộc họp đại hội xã viên bất thường về việc khai trừ xã viên.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
Vi phạm nghĩa vụ thanh toán, trong hợp đồng cung ứng, chuyển giao khoa học công nghệ
(16:23 - 06/07/2008)
|
|
Bản án sơ thẩm:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chi nhánh Công ty phát triển và chuyển giao phần mềm Hà Nội (Dtsoft) về vụ kiện “Vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng ứng dụng khoa học công nghệ” đối với Công ty TNHH tin học Hoàng Lực.
Công ty TNHH tin học Hoàng Lực có trách nhiệm thanh toán cho Chi nhánh Công ty phát triển và chuyển giao phần mềm Hà Nội (Dtsoft) số tiền 88.738.530 đồng. Trong đó nợ gốc là 68.500.000 đồng, nợ lãi là 20.238.530 đồng.
Bản án phúc thẩm:
Công ty TNHH tin học Hoàng Lực đã ký biên bản nghiệm thu đưa vào hoạt động của 28 phần mềm. Công ty TNHH tin học Hoàng Lực còn nợ 63.000.000 đồng như án sơ thẩm xác nhận là có căn cứ thỏa đáng...
Riêng phần mềm của Trường tiểu học Lê Lợi...Chi nhánh Công ty TNHH phát triển và chuyển giao phần mềm Hà Nội đã không thực hiện và trên thực tế nguyên đơn cũng chưa cài đặt phần mềm này cho Trường tiểu học Lê Lợi nhưng bản án sơ thẩm buộc Công ty Hoàng Lực phải thanh toán cho nguyên đơn 5.500.000 đồng vốn gốc và lãi quá hạn thanh toán 1.298.000 đồng là không đúng cần phải sửa lại phần này ...
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Công ty TNHH thực phẩm nước giải khát A&B khởi kiện đại lý bán hàng nhưng bị thua kiện
(11:21 - 15/07/2008)
|
|
Căn cứ điều 426 Bộ luật dân sự 2005 thì khi một bên muốn chấm dứt hợp đồng phải làm bằng văn bản gửi cho bên kia biết trước, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Luật còn quy định thời điểm chấm dứt hợp đồng là từ khi bên kia nhận được thông báo và vụ án này công ty đã nhận được thông báo của chị Hương xin nghỉ đẻ, nên ngày 1/6/2005 công ty có công văn số 24 yêu cầu chị Hương thực hiện. Hết tháng 6/2005 và tháng 5/2006 và chị Hương thực hiện tháng 6/2005 còn tháng 5/2006 không nằm trong hợp đồng nên chị không thực hiện. Nay công ty buộc chị Hương phải thực hiện chỉ tiêu 5/2006 là không có căn cứ. Bởi vậy nghĩ nên bác yêu cầu khởi kiện của Công ty A&B.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
Công ty TNHH nước giải khát Coca-Cola khởi kiện đại lý Trần Văn Dũng
(08:22 - 30/05/2008)
|
|
Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ trong vụ kiện này là “tranh chấp hợp đồng mua bán” và buộc bị đơn Trần Văn Dũng phải trả cho Công ty TNHH nước giải khát Coca-Cola số nợ 606.446.300 đồng tiền nước, 52.329.600 đồng tương đương 828 két vỏ chai (63.200 đồng/két) và lãi suất quá hạn là 146.375.921 đồng. Tổng cộng là 805.151.821 đồng.
- Bác yêu cầu của ông Trần Văn Dũng đòi Công ty TNH nước giải khát Coca-Cola Việt Nam phải thanh toán cho ông phần chiết khấu độc quyền với số tiền 477.896.600 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ "tranh chấp hợp đồng mua bán” và áp dụng khoản 3 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử là không đúng, bởi lẽ:
Ngày 14/10/1997 ông Trần Văn Dũng với Công ty nước giải khát Coca-Cola Việt Nam có ký hợp đồng kinh tế đại lý độc quyền. Theo hợp đồng đại lý này, ông Dũng được Công ty Coca-Cola Việt Nam chỉ định là đại lý độc quyền tiếp thị và phân phối các sản phẩm cho Công ty Coca-Cola Việt Nam sản xuất, ngược lại ông Dũng được hưởng hoa hồng phân phối cùng các quyền lợi khác. Tại phiên tòa phúc thẩm hai bên đều thừa nhận đây là hợp đồng đại lý không phải hợp đồng mua bán (Mua đứt bán đoạn). Quá trình thực hiện hợp đồng do có 1 số bất đồng nên vào tháng 8/1999 hai bên đã chấm dứt hợp đồng và không bên nào có yêu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng.
Mãi cho đến ngày 16/01/2002 ông Dũng và đại diện Công ty Coca-Cola Việt Nam mới gặp nhau để thanh lý hợp đồng. Tại buổi làm việc này ông Dũng xác nhận có nợ số tiền nước 606.446.300đ tiền vỏ chai trị giá 52.347.600đ tương đương 8
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
 |
|
 |
|
|
Cá nhân bà Vũ Thị Lực khởi kiện Công ty Cổ phần Phú Diễn đòi nợ tiền theo hợp đồng xây dựng
(09:17 - 15/07/2008)
|
|
Bà Vũ Thị Lực với tư cách cá nhân và vì mục đích lợi nhuận đã ký kết hợp đồng xây dựng số 110 với giám đốc nhà máy để thi công xây dựng nhà điều hành sản xuất của nhà máy, được phép của Công ty kết cấu thép cơ khí xây dựng và Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam cho phép như tài liệu Công ty kết cấu thép xuất trình và phù hợp với quy chế Công ty kết cấu thép quy định là hợp đồng hợp pháp. Giá trị hợp đồng 939.850.000đ. Khi thực hiện đã phát sinh tổng cộng 976.494.369đ, nhà máy và Công ty kết cấu thép đã thanh toán được 714.846.144đ, còn lại 261.648.225đ. Nhà máy chưa thanh toán, nhiều lần 2 bên đã nhận nợ và có biên bản xác nhận nợ lần cuối cùng ngày 15/12/2004. Nhưng vẫn chưa trả. Ngày 02/01/2005, bà Lực có đơn khởi kiện tại Toà án huyện Từ Liêm. Ngày 11/9/2006 bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần Phú Diễn thanh toán số nợ trên.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Tranh chấp hợp đồng tư vấn và lập dự án đầu tư thiết kế quy hoạch khu nhà ở
(16:19 - 21/04/2008)
|
|
Theo như nội dung hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận và ký kết thì trong từng bước và giữa các bước thực hiện: Từ bước đầu tiên là soạn văn bản xin thỏa thuận định hướng qui hoạch đến bước cuối cùng là thuyết minh tổng hợp khu đất qui hoạch có mối quan hệ gắn kết, bước nọ là tiền đề của bước kia nên việc nguyên đơn cho rằng Công ty Nam Việt chỉ soạn thảo văn bản, cung cấp bản đồ hiện trạng vị trí mà không cần biết kết quả cơ quan chức năng có chấp thuận địa điểm qui hoạch không là không thỏa đáng, không thể hiện trách nhiệm của một nhà tư vấn thực thụ.
Từ những nhận định trên. Hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn.
|
|
Chi tiết...
|
|
|
 |
|
 |
|
|
Công ty TNHH Bình Minh Tải kiện chủ xe Nguyễn Thành Hưng
(09:34 - 10/12/2007)
|
|
Quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp là yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra, Toà án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp hợp đồng kinh doanh – thương mại là không đúng, từ đó dẫn đến việc điều tra không đầy đủ, bỏ lọt người tham gia tố tụng.
Giá trị hàng hóa bị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông của xe 12H – 6388 xảy ra tại khu vực đèo Cù Mông cũng chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ, không đưa đại diện Công ty TNHH thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Việt Nam, tham gia tố tụng để xác định cụ thể phần thiệt hại là thiếu sót.
Tại phiên toà phúc thẩm, cả hai bên đương sự đều khai thống nhất rằng cơ quan bảo hiểm bảo Việt – Chi nhánh Bắc Giang có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hàng hóa với số tiền trên 100.000.000 đồng theo hợp đồng bảo hiểm, nhưng cấp sơ thẩm cũng không đưa đại diện bảo hiểm Bảo Việt-Chi nhánh Bắc Giang tham gia tố tụng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm là thiếu sót.
Mặc khác, cấp sơ thẩm cũng không điều tra làm rõ lỗi các bên dẫn đến vụ tai nạn giao thông, gây thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường cùng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
|
|
Chi tiết...
|
|
|